Đôi dòng tự sự đầy thăng trầm của võ sư Trần Tiến

Năm 1943, tôi dạy thể dục tại đồn điền cao su Đất Đỏ (Plantation Terre Rouge de l’Indochine) ở Kompong Cham (Campuchia). Công nhân nơi đây phần lớn là người Việt từ miền Bắc sang. Trong thời gian làm việc, tôi đươc tên chủ đồn điền người Pháp “quý mến” vì đã giúp công nhân có sức khỏe để “làm việc suốt ngày đêm”.
Thời thanh niên ngang dọc

“Ông nội tôi (cụ Hoàng Hảo) và bố tôi (cụ Hoàng Tân) vốn cùng chi họ và từng tham gia nghĩa quân Hoàng Hoa Thám. Tôi chào đời ngày 04.02.1911 (Tân Hợi) tại Cầu Vòng, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang. Năm 1913, cụ Hoàng Hoa Thám qua đời, nghĩa quân tan rã; ông nội và bố mẹ tôi phải thay tên đổi họ, lẩn tránh về thị xã Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng. Tại đây, tôi được bố khai sinh lại: ngày 04.02.1913”. Đó là những lời tự sự của lão võ sư Trần Tiến trong một lần trò chuyện cùng chúng tôi cách đây vài năm. Trầm ngâm một hồi, ông nói tiếp: “Sinh trưởng trong gia đình có truyền thống võ nghệ, tôi được ông nội khai tâm võ học lúc 10 tuổi. Hai năm sau, ông tôi qua đời, tôi được thân phụ truyền dạy tiếp. Từ 15-20 tuổi, tôi học Thiếu Lâm với thầy Lý Giang Nam – quê ở Phúc Kiến (Trung Quốc), chạy sang Hải Phòng lánh nạn. Những năm sau, tôi tập Nhu thuật cùng ông Tanabe (Nhật), Judo với ông Karachi (Nhật) và luyện cả quyền Anh cùng võ sĩ Lafleur (người Pháp gốc Phi).Tuổi thanh niên sôi nổi lại biết võ nghệ, tôi đã tham gia nhiều cuộc so tài về roi và kiếm ở miền Bắc trong 6 tháng đầu năm 1936. Nhưng đến tháng 8.1936, tôi buộc lòng phải rời xa quê hương vào miền Nam do bị thực dân Pháp đe dọa bắt giam vì “xách động kẻ xấu luyện võ gây mất an ninh trật tự”. Đến Sài Gòn, tôi tạm dừng bước và luyện tập tại Cercle Sportif Saigonnais (nay là Cung văn hóa lao động Tp. HCM) và sau đó hoạt động võ thuật ở nhiều nơi…

Năm 1943, tôi dạy thể dục tại đồn điền cao su Đất Đỏ (Plantation Terre Rouge de l’Indochine) ở Kompong Cham (Campuchia). Công nhân nơi đây phần lớn là người Việt từ miền Bắc sang. Trong thời gian làm việc, tôi đươc tên chủ đồn điền người Pháp “quý mến” vì đã giúp công nhân có sức khỏe để “làm việc suốt ngày đêm”. Thật lòng, lúc đó tôi chưa biết gì về sự bóc lột của bọn chủ nhân tư bản cũng như không hiểu mình đang bị lợi dụng. Nghĩ lại thật buồn cười! Mãi đến cuối năm 1945, trong một lần nghỉ phép, tôi trở ra Hà Nội, đau lòng trước cảnh nhân dân chết đói quá thê thảm và được Việt Minh kêu gọi, tôi đã tham gia bộ đội vào đầu năm 1946. Mây năm đầu, tôi huấn luyện võ thuật cho “Bộ đội đặc biệt tinh nhuệ” (năm 1967 cải danh là đặc công). Những năm sau, tuy đảm nhận nhiệm vụ khác nhưng tôi vẫn thường xuyên luyện võ và dạy võ cho mọi người khi có điều kiện. Sau 32 năm phục vụ trong quân ngũ, tôi nghỉ hưu vào năm 1978. Thế nhưng đến cuối năm 1981, tôi còn tự nguyện sang huấn luyện võ thuật định kỳ cho một số sĩ quan quân đội nhân dân cách mạng Campuchia và mãi đến 20.09.1989 mới về nghỉ hẳn tại Tp. HCM”.

Sẵn vốn liếng võ cổ truyền Việt Nam cộng với tinh hoa võ thuật của các tông phái Trung Quốc và Nhật Bản… cùng kinh nghiệm dạy võ trong quân đội, lão võ sư Trần Tiến đã tinh lọc và đúc kết thành võ phái Thiếu Lâm nội gia võ thuật đạo Việt Nam và phổ biến tại Trung tâm TDTT quốc phòng 2, Nhà bảo tàng không quân phía Nam… Học trò của ông có cả người Mỹ, Pháp, Ý, Nga, Brazil…

Nhìn lại cuộc đời

Về chuyện riêng tư, lão võ sư tâm tình: “Năm 1961, tôi lập gia đình cùng bà Trịnh Kim Thoa. Do hậu quả từ các trận bom đạn trong kháng chiến chống Pháp, nhà tôi thường đau yếu và qua đời năm 1962. Từ đó đến nay, tôi vẫn sống đơn thân… Mồ côi bố mẹ từ trẻ, lang bạt khắp nơi, chẳng còn bà con dòng họ, nhưng tôi thấy mình chẳng hề cô độc mà vẫn có một niềm an ủi to lớn để vui sống vì bên cạnh tôi luôn có một đại gia đình là đồng đội, bè bạn, thân hữu, học trò và tất cả những người quý mến tôi…”

882-nc28

Hiện nay, lão võ sư Trần Tiến vẫn sống trầm lặng, giản dị và hiu quạnh tại một căn hộ trên đường Nguyễn Văn Mai, Q. Tân Bình, Tp. HCM. So với thời trai trẻ, con người của ông đã thay đổi rất nhiều. Từ một chàng trai háo thắng, chẳng chịu thua kém ai, nay đã trở thành một cụ già hiền lành, dễ mến với quan niệm sống ung dung, tự tại bởi vì: “Suy cho cùng, trước đây tôi có thắng trên võ đài đấy, nhưng thắng để làm gì, chẳng qua cũng chỉ vì danh và vì lợi. Tuổi trẻ mà! (cười)… Sau này, có dịp đi nơi này, nơi nọ, tiếp xúc, kết bạn với nhiều người và nghiên cứu học hỏi thêm, tôi mới hiểu võ học vô cùng mênh mông. Thế nên, khi đi xem hội võ, thấy trình diễn kém, tôi cũng vỗ tay. Có bạn hỏi tại sao? Tôi đáp, không hay với mình nhưng hay với họ, cần đông viên, khích lệ anh em chứ!”.

Dù tuổi cao, nhưng với tư cách thành viên ban cố vấn Liên đoàn võ thuật cổ truyền Việt Nam và hội võ cổ truyền Tp. HCM, võ sư vẫn thường xuyên tham gia ý kiến ở các hôi nghị chuyên môn võ cổ truyền Việt Nam cũng như dự khán nhiều giải thi đấu. Với những đóng góp trong nhiều năm qua, võ sư đã được Liên đoàn võ thuật cổ truyền Việt Nam trao tặng huy chương vàng danh dự tại giải vô địch võ cổ truyền toàn quốc năm 1977 ở Quảng Ngãi. Từ tháng 5.2001, ông còn tham gia thành lập và điều hành câu lạc bộ Võ thuật Phương Đông (dạy cho sinh viên võ cổ truyền, Vovinam, Karatedo, Taekwondo, Aikido…) tại Đại học dân lập Hồng Bàng cũng như miệt mài biên soạn sách võ… Ngày 02.09.2003, cùng với một số lão võ sư khác ở Tp. HCM, ông được Ủy ban TDTT trao tặng huy chương Vì sự nghiệp TDTT.

Gặp nhau vào những ngày giáp tết Ất Dậu (2005), lão võ sư vui vẻ thổ lộ: “Thời trẻ, tôi đã thực hiện tròn nghĩa vụ của một thanh niên trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Còn trong thời kỳ xây dựng đất nước, tôi cũng mong muốn đóng góp một chút hơi tàn cho thế hệ trẻ với gần 20 đầu sách đã được xuất bản và hiện nay vẫ tiếp tục biên soạn vì thời gian chẳng còn chờ đợi một ai (cười)…”.

Cùng Danh Mục:

Liên Quan Khác

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *